HỆ THỐNG XLNT NƯỚC THẢI GIẾT MỔ CÔNG TY CP HƯƠNG QUỲNH ĐĂNG – NINH GIANG, HẢI DƯƠNG

Toàn bộ nước sau bể UASB 1 được chảy sang hệ thống bể UASB 2 bằng hệ thống ống dẫn nước. nước thải cũng được đưa vào từ hệ thống phân phối dưới đáy bể. nguyên tắc hoạt động bể UASB 2 như  bể UASB 1

Sau khi qua hai bể UASB chỉ số COD, BOD, tổng Nito, Tổng photpho giảm mạnh, trong đó COD giảm tới 80% ( lưu ý tỷ lệ N : P : S =  5:1:1)

Nước thải sau qua hệ thống bể UASB được chảy sang bể thiếu khí 1..Trong nước thải, có chứa hợp chất nitơ và photpho, những hợp chất này cần phải được loại bỏ ra khỏi nước thải. Tại bể Anoxic, trong điều kiện thiếu khí hệ vi sinh vật thiếu khí phát triển xử lý N và P thông qua quá trình Nitrat hóa và Photphoril.

Quá trình Nitrat hóa xảy ra như sau: Hai chủng loại vi khuẩn chính tham gia vào quá trình này là Nitrosonas và Nitrobacter. Trong môi trường thiếu oxy, các loại vi khuẩn này sẻ khử Nitrat (NO3-) và Nitrit (NO2-) theo chuỗi chuyển hóa: NO3- → NO2- → N2O → N2↑. Khí nitơ phân tử N2 tạo thành sẽ thoát khỏi nước và ra ngoài. Như vậy là nitơ đã được xử lý.

Quá trình Photphorit hóa: Chủng loại vi khuẩn tham gia vào quá trình này là Acinetobacter. Các hợp chất hữu cơ chứa photpho sẽ được hệ vi khuẩn Acinetobacter chuyển hóa thành các hợp chất mới không chứa photpho và các hợp chất có chứa photpho nhưng dễ phân hủy đối với chủng loại vi khuẩn hiếu khí. Để quá trình Nitrat hóa và Photphoril hóa diễn ra thuận lợi, tại bể Anoxic bố trí máy khuấy chìm với tốc độ khuấy phù hợp. Máy khuấy có chức năng khuấy trộn dòng nước tạo ra môi trường thiếu oxy cho hệ vi sinh vật thiếu khí phát triển.

Quá trình Oxic (xử lý sinh học hiếu khí): Đây là bể xử lý sử dụng chủng vi sinh vật hiếu khí để phân hủy chất thải. Trong bể này, các vi sinh vật (còn gọi là bùn hoạt tính) tồn tại ở dạng lơ lửng sẽ hấp thụ oxy và chất hữu cơ (chất ô nhiễm) và sử dụng chất dinh dưỡng là Nitơ & Photpho để tổng hợp tế bào mới, CO2, H2O và giải phóng năng lượng. Ngoài quá trình tổng hợp tế bào mới, tồn tại phản ứng phân hủy nội sinh (các tế bào vi sinh vật già sẽ tự phân hủy) làm giảm số lượng bùn hoạt tính. Tuy nhiên quá trình tổng hợp tế bào mới vẫn chiếm ưu thế do trong bể duy trì các điều kiện tối ưu vì vậy số lượng tế bào mới tạo thành nhiều hơn tế bào bị phân hủy và tạo thành bùn dư cần phải được thải bỏ định kỳ.

Các phản ứng chính xảy ra trong bể Aerotank (bể sinh học hiếu khí) như:

Quá trình Oxy hóa và phân hủy chất hữu cơ: Chất hữu cơ + O2 → CO2 + H2O + năng lượng

Quá trình tổng hợp tế bào mới: Chất hữu cơ + O2 + NH3 → Tế bào vi sinh vật + CO2 + H2O + năng lượng

Quá trình phân hủy nội sinh: C5H7O2N + O2 → CO2 + H2O + NH3 + năng lượng

Nồng độ bùn hoạt tính duy trì trong bể Aeroten: 3500 mg/l, tỷ lệ tuần hoàn bùn 100%.

Sau đó nước thải từ bể Aerotanh được chảy sang bể thiếu khí 2 với hệ thốn cánh khuấy đảo trộn. tại bể này xẽ xử lý nốt phần còn lại hàm lượng NO2- và NO3-  thành N2O và N2. Nước thải sau bể thiếu khí 2 được đưa sang bể lắn đứng nhằm tách toàn bộ bùn hoạt tính ra khỏi nước. Phần nước trong được thoát ra ngoài nhờ hệ thống thu nước máng răng cưa. Phần bùn lắng một phần được tuần hoàn lại bể thiếu khí 1, một phần được bơm sang bể chứa bùn

Nước trong sau bể lắng tự chảy qua máng thu nước sang bể khử trùng. Tại đây hệ thống máy sục OZON với hệ thống phân tán khí nhỏ từ dưới đi lên các phân tử O+ sẽ phá vỡ màng tế bào tiêu diệt VSV (vi khuẩn E.coli). Nước thải sau khử trùng được thải ra nguồn tiếp nhận QCVN 40:2011/BTNMT cột B.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *